Đức Phật A Di Đà và pháp môn niệm Phật

A Di Đà (阿彌陀) là danh từ phiên âm có gốc từ hai chữ trong tiếng Phạn:  amitābha vàamitāyusAmitābha dịch nghĩa là "vô lượng quang “ (ánh sáng vô lượng) ; amitāyus có nghĩa là "vô lượng thọ”  (thọ mạng  vô lượng).Đây là danh xưng của  Đức  Phật được tôn thờ nhiều nhất đối với  Đại thừa. A-di-đà trụ trì cõi Cực lạc :  ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Tịnh độ tông tại Việt Nam,Trung QuốcNhật Bản và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí tuệ.

Trong lịch sử Đại thừa và Tịnh độ tông, tôn xưng A-di-đà là một mốc phát triển quan trọng. Niệm Phật A-di-đà là một pháp môn tu  của Phật tử giúp không phải trải qua vô số kiếp luân hồi mà sẽ được "đới nghiệp vãng sanh". Nghĩa là sẽ được "mang theo nghiệp" và "vãng sanh" về cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà. Ở Tây Phương Cực Lạc là đã ra khỏi luân hồi nên sẽ được "bất thối chuyển", kết hợp với cảnh thuận duyên ở cõi Cực Lạc mà tiếp tục tu tập, giải nghiệp và sẽ thành Phật. Đây là cách tu dưỡng kết hợp tự lực và  tha lực là dựa vào các đại nguyện của Phật A-di-đà. Là một pháp môn tu nhanh chóng, dễ dàng hơn rất nhiều vì không chỉ dựa vào tự lực của chính mình. Pháp môn tu này thường dựa vào đại nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà bằng cách nhất tâm niệm 10 lần câu "Nam-mô A-di-đà Phật"  lúc lâm chung để được sanh vào cõi Cực lạc. Muốn đủ khả năng niệm 10 lần câu "Nam mô A Di Đà Phật" ngay lúc lâm chung thì lúc sinh tiền hằng ngày phải kiên trì niệm Phật A-di-đà.

Pháp môn tu này dựa trên ba  nền tảng TínHạnh, Nguyện:

-Tín là tin tưởng vào cõi Tịnh độ, tin vào lời thề tiếp dẫn chúng sanh của Phật A Di Đà, tin vào khả năng của mình hoàn toàn có thể thực hiện được và chắc chắn được Phật tiếp dẫn vãng sanh về cõi Tịnh độ. Pháp tu niệm Phật A Di Đà do chính Phật Thích Ca truyền dạy. Nhiều bậc cao tăng của các tông phái khác cũng đã giảng giải, xưng tán, khuyến khích niệm Phật A Di Đà hoặc song tu. Hạnh là công phu trì niệm và tu tập,  từ niềm tin và phát nguyện mạnh mẽ, người tu hằng ngày kiên trì niệm "Nam mô A Di Đà Phật"  thường xuyên. Công phu tích lũy này sẽ giúp người tu được bảo vệ và gia trì để đủ khả năng niệm 10 lần câu "Nam mô A Di Đà Phật" lúc lâm chung để ứng với đại nguyện thứ 18 của Phật A Di Đà và được Phật đến tiếp dẫn về cõi Tịnh độ. Nguyện là phát nguyện dũng mãnh, tha thiết, quyết tâm về cõi Tịnh độ, từ đó buông xả, không tham luyến bất kỳ điều gì khác. Dù để thành Phật cứu giúp chúng sinh hay chỉ để giải thoát khỏi khổ ách trong sinh tử luân hồi, người theo pháp tu này cũng đều có phát nguyện mạnh mẽ, nhất quyết về cõi Tịnh độ của đức Phật A Di Đà.

48 ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

 1.- Khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

2.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

3.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

4.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

5.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

6.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

7.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

8.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

9.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

10.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

11.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

12.- Khi tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

13.- Khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

14.- Khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Đại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

15.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

16.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà cón nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

17.- Khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

18.- Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

19.- Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

20.- Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

21.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

22.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

23.- Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

24.- Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

25.- Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

26.- Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

27.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

28.- Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

29.- Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

30. - Khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

31.- Khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

32.- Khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

33.- Khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

34.- Khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

35.- Khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

36.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

37.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

38.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợ tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

39.- Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

40.- Khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

41.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

42.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

43.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

44.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

45.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

46.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

47.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

48.- Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

Trí Bửu – Thành kính tưởng niệm Đức Phật A Di Đà  17.11. Bính Thân (2016)

Đền ơn đáp nghĩa đúng Chánh pháp

Đức Phật dạy rằng con người mang bốn trọng ơn, trong đó có ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, vì không có cha mẹ không thể có sự hiện hữu của chúng ta.

Không sinh không diệt trong “Thề non nước”

Bài thơ Thề non nước của nhà thơ Tản Đà là một bài thơ hay và đẹp về lời thề giữa hai người thương nhau (đó có thể là hai cha con, hai mẹ con, hai anh em, hai vợ chồng, hai thầy trò hay thậm chí là gi

Chư Tăng bố-tát tụng giới, quá đường chung tại VNQT

Sáng nay, 12-6 (29-4-Mậu Tuất), tại trụ sở BTS - Việt Nam Quốc Tự (242 - 244 đường 3-2, P.12, Q.10), chư tôn đức Tăng thành viên BTS GHPGVN TP.HCM, các ban trực thuộc, 24 BTS GHPGVN quận, huyện và chư

Tưởng niệm 55 năm Bồ-tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân (1963-2018) Bồ-tát Thích Quảng Đức: Ngọn lửa & Trái tim

Cuối tháng 3-2018, Trung ương Giáo hội đã ban hành thông tư về việc tổ chức Đại lễ tưởng niệm 55 năm Bồ-tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. Theo đó, Đại lễ sẽ diễn ra tại thủ đô Hà Nội, TP.Hồ Chí

122 vị Khất sĩ dự khóa tu truyền thống lần thứ 23

Khóa tu truyền thống Khất sĩ lần thứ 23 được chính thức khai mạc vào ngày 23-10 tại tịnh xá Ngọc Thạnh (thôn Phước Thành, xã Tân Hòa, H.Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) và kéo dài tới ngày 30-10-2017.

122 vị Khất sĩ dự khóa tu truyền thống lần thứ 23

Khóa tu truyền thống Khất sĩ lần thứ 23 được chính thức khai mạc vào ngày 23-10 tại tịnh xá Ngọc Thạnh (thôn Phước Thành, xã Tân Hòa, H.Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) và kéo dài tới ngày 30-10-2017.

Khai mạc Hội thảo khoa học về Tổ Khánh Hòa

Sáng nay, 19-10, tại hội trường chính chùa Viên Minh - Văn phòng BTS GHPGVN tỉnh Bến Tre, lễ khai mạc Hội thảo khoa học “Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam và truyền th

Xuất gia báo hiếu trong Phật giáo Nam tông Khmer

Xuất gia báo hiếu là một nét đẹp truyền thống lâu đời của người Khmer Nam Bộ. Lễ nhập tu báo hiếu này thường được tổ chức vào khoảng thời gian trước hoặc sau Tết Chôl Chnăm Thmây

Ý nghĩa ngày Răm tháng Bảy – Lễ Vu Lan

Rằm tháng Bảy, ngày Xá tội vong nhân của phong tục Á Đông. Theo tín ngưỡng dân gian, là ngày mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng Cô Hồn (vào buổi chiều) cho các vong linh không nhà cửa, kh

TP.HCM: Nhiều hoạt động Tuần văn hóa triển lãm Vu lan

Theo thông tin từ Ban Văn hóa GHPGVN TP.HCM, từ ngày 21-8 đến 27-8 (nhằm ngày 30-6 đến ngày 7-7-Đinh Dậu), Ban Văn hóa sẽ tổ chức Tuần lễ Triển lãm, văn nghệ - Hội chợ ẩm thực Vu lan - Báo hiếu PL.256

Cần Thơ: Họp báo tổ chức Hội trại tuổi trẻ Phật giáo

Tiếp nối sự thành công của 10 Hội trại tuổi trẻ Phật giáo nhiều năm về trước, đồng thời triển khai những hoạt động tích cực của phân ban Thanh thiếu nhi Phật tử Trung ương, chư tôn đức tăng ni đã tổ c

Đóa sen thiêng từ bãi rác dòng đời

Tọa lạc nơi cửa ngõ phía Đông của TP.Hồ Chí Minh, Pháp viện Minh Đăng Quang - trung tâm văn hóa, giáo dục và xã hội của Hệ phái Khất sĩ - thành viên sáng lập GHPGVN, sau thời gian xây dựng, sẽ khánh t

Liên hoan phim Phật giáo lần thứ 18 ở Mỹ

Liệu bạn có biết dòng nhạc Punk rock đang rất thịnh hành ở Myanmar hay một luồng gió mới làm thay đổi các lễ nghi truyền thống của Bhutan hay không? Và bạn đã biết gì về vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng

Tìm Phật trong Tam tạng Thánh giáo & tìm Phật ngoài Thánh giáo

Từ Phật giáo Nguyên thủy có hướng nhìn về Phật giáo Đại thừa và đứng ở lập trường Đại thừa để quan sát toàn thể Pháp giới.

HT.Thích Thanh Từ: Người tu phải dẹp bỏ tham sân si

GN - Trong kinh kể lại, một hôm Phật hỏi các thầy Tỳ-kheo:

Thông điệp Ngày Vesak 2017 của Tổng Thư ký LHQ

GNO - Ngày 4-5 vừa qua, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres đã phát đi Thông điệp nhân Ngày Vesak 2017. GNO trân trọng giới thiệu đến quý độc giả trong mùa Phật đản PL.2561.

HT.Thích Trí Quảng nói về Tuần lễ Phật đản tại TP.HCM

GN - Ngay từ đầu năm 2017, việc tổ chức Đại lễ Phật đản đã được đặt ra trong các phiên họp giao ban hàng tuần của Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM cũng như trong các cuộc họp Ban Trị sự Phật g

Những điều Người Phật tử không nên làm khi tới chùa

Chùa chiền là chốn Thiền môn thanh tịnh, là ngôi nhà giáo pháp che chở cũng như nuôi lớn tình thương, khơi nguồn trí tuệ và giúp chúng ta giải phóng những nỗi khổ niềm đau trong cuộc đời. Vì thế, ngườ

Đường trần đâu có gì…

GN - Nhà tang lễ vắng vẻ, trời không nắng, có vài hạt mưa bụi rây rây trên khóm hoa quỳnh anh vàng quạnh quẽ. Tới giờ hẹn nhưng vẫn chưa xong vì còn đang lựa cốt. Phải lấy ra những mảnh xương lớn để q

Hội thảo khoa học về Thiền sư Pháp Loa

GNO - Hôm qua, 29-3, tại Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt - chùa Vĩnh Nghiêm (tỉnh Bắc Giang), Hội Di sản Văn hóa Việt Nam phối hợp với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bắc Giang, Sở Văn h

Bí mật về bức tượng Phật giáo 1.300 năm tuổi

GNO - Sau 7 năm tiến hành chụp cắt lớp CT, nghiên cứu và phân tích chuyên sâu, các nhà nghiên cứu đã tìm ra những bí mật về lịch sử và hình dáng ban đầu của một bức tượng Phật giáo cổ của Nhật Bản, là

Khảo biện về kinh Dược Sư

NSGN - Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an cho cá nhân, gia đình, dân tộc và xứ sở. Đặc biệt, tron

TP.HCM: Học viện PGVN khánh tuế nhị vị Hòa thượng

GNO - Sáng nay, 18-2, tại tòa viện trưởng, Hội đồng Điều hành Học viện PGVN tại TP.HCM đã trang nghiêm khánh tuế Hòa thượng Viện trưởng Thích Trí Quảng và Hòa thượng Phó Viện trưởng Thường trực Thích

Nền tảng Phật giáo của Kinh tế học

(PGVN) Như vậy, hành xử kinh tế của một phật tử tại gia là môt hành động có mục đích nhắm đến việc thu thập của cải cụ thể để tiêu dùng vật chất và tích lũy phước đức cho đời sống mai sau. Liên quan đ

Lễ Makha Bucha tại chùa Phra Dhammakaya

GNO - Những hình ảnh đẹp ghi lại cảnh hàng ngàn nhà sư vân tập để cầu nguyện trong im lặng tại lễ Makha Bucha.

Nhờ thờ Phật mà thoát khổ

GN - Theo lời Phật dạy, người học Phật ngoài việc ăn chay, lạy Phật, thiền định, tụng kinh, trì chú, giữ giới… còn phải thực hành thiện nghiệp giúp đời để tạo công đức, phước báo cho bản thân. Tự độ v

Mùa xuân theo dấu chân Phật

GN Xuân - Nhớ nghĩ đến cuộc đời giáo hóa độ sanh của Đức Phật, chúng ta hình dung ra những phong cảnh từng lưu dấu ấn của Ngài, quả thật là trong lành, tuyệt đẹp vô cùng.

Tạo ba phước nghiệp

Nay vui, đời sau vui” là một trong những tiêu chí tu tập quan trọng của hàng Phật tử. Cụ thể, đời này được hạnh phúc an lạc, đời sau tái sinh vào trời người có đầy đủ phước báo và hội đủ thắng duyên g

Hành trang trọn đời của người tu

GN - Ngược dòng lịch sử Phật giáo du nhập, ngay từ giai đoạn đầu của Phật giáo Việt Nam, pháp môn Thiền đã được giới thiệu qua các bản kinh An ban thủ ý mà người có công lớn là Tổ sư Khương Tăng Hội.

Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo - Cơ hội rộng mở cho mô hình “Tôn giáo xã hội”

Với 84,58% ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành, ngày 18-11-2016, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

Đức Phật A Di Đà và pháp môn niệm Phật

Trong lịch sử Đại thừa và Tịnh độ tông, tôn xưng A-di-đà là một mốc phát triển quan trọng. Niệm Phật A-di-đà là một pháp môn tu của Phật tử giúp không phải trải qua vô số kiếp luân hồi mà sẽ được "đới

Nguồn gốc "tràng phan" trong Phật giáo

Phan tiếng Phạn là Ba Đa Ca, cũng gọi là Kế Đô, là lời gọi chung cho các loại Tinh Kỳ và Tràng, Cái,… đồng thời là một dụng cụ để trang nghiêm đạo tràng, cúng dường chư Phật Bồ tát.

VIDEO 




LIÊN KẾT 
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------


THƯ VIỆN