Tư tưởng Tịnh độ & tha lực

Vào thời kỳ đầu của Phật giáo Phát triển, yếu tố tha lực (Phật lực, Bồ-tát lực) được đề cập đến khá sớm trong kinh Na-tiên Tỳ-kheo. Kinh này xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ I (Tây lịch), sau đó được truyền sang Tích Lan và các nước Nam phương Phật giáo với tên gọi là Milindapanhà (thuộc văn hệ Pàli); bản được truyền sang Trung Hoa và dịch sang chữ Hán tên là Na-tiên Tỳ-kheo. Nội dung kinh là giáo nghĩa Phật giáo Nguyên thủy, tuy nhiên  có đề cập đến vấn đề tha lực, nên được xem là tư tưởng chuyển tiếp giữa thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy (thời Đức Phật tại thế cho đến sau khi Phật Niết-bàn 100 năm) và Phật giáo Phát triển (khoảng từ thế kỷ thứ I đến cuối thế kỷ thứ VIII Tây lịch).

shutterstock_182385299.jpg

Sau Na-tiên Tỳ-kheo còn nhiều bản kinh của Phật giáo Phát triển đề cập đến cảnh giới của chư Phật (các cõi Tịnh độ) và tha lực mà hành giả tu tập có được nhờ dựa vào tín tâm, công phu tu tập và nguyện lực của mình (tự lực). Nhờ chí nguyện của hành giả tương ưng với bản nguyện của chư Phật, nhờ tự lực kết hợp với tha lực (sự hộ trì, tiếp dẫn của chư Phật), hành giả có thể vãng sinh về các cõi Tịnh độ của chư Phật.

Khoảng cuối thế kỷ thứ II Tây lịch, sau khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa chưa bao lâu (Phật giáo đến Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ I Tây lịch), có Đại sư Chi-lâu-ca-sấm, người nước Đại-nhục-chi đến kinh thành Lạc Dương (khoảng từ năm 178-189) tham gia vào công việc phiên dịch kinh điển. Với hai bản dịch Phật thuyết ban chu tam muội kinh và Ban chu tam muội kinh, Đại sư được xem là người đầu tiên phổ biến tư tưởng niệm Phật A Di Đà và thế giới Tây phương Cực lạc, làm cơ sở cho tín ngưỡng Tịnh độ sau này (theo Phật Quang đại từ điển).

Từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thư VI, các cao tăng và cư sĩ Tây Vực tiếp tục đến Trung Hoa, dịch các bộ kinh như: Phật thuyết Vô Lượng Thọ, Đại A Di Đà kinh, Phật thuyết A Di Đà kinh, Phật thuyết quán Vô Lượng Thọ kinh, Vãng sinh Tịnh độ luận v.v... là những kinh về tư tưởng Tịnh độ và Đức Phật A Di Đà ở phương Tây.

Ở Ấn Độ, thời ngài Long Thọ (thế kỷ thứ III Tây lịch) đã phổ biến ba dòng tư tưởng vãng sinh Tịnh độ: Thứ nhất là cầu sinh về Tịnh độ Đâu-suất, nơi Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ là Di Lặc đang giáo hóa chúng sinh. Thứ hai là cầu sinh về cõi Tịnh độ Diệu hỷ của  Phật A Sơ (Aksobhya-Bất Động Phật) ở phương Đông. Thứ ba là cầu sinh về cõi Tịnh độ Cực lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây.

Tư tưởng tha lực trong kinh Na-tiên Tỳ-kheo

Tư tưởng Phật lực trong kinh Na-tiên Tỳ-kheo được xem là khởi nguyên tư tưởng tha lực trong các kinh của Phật giáo Phát triển sau này. Kinh ghi lại những lời vấn đáp giữa Tỳ-kheo Na-tiên (Nàgasena, người Trung Ấn, thế kỷ thứ II trước Tây lịch) và vua Di-lan-đà (Milinda). Trong phần luận về “Nhân ít, quả nhiều”, vua Di-lan-đà hỏi Tỳ-kheo Na-tiên như sau:

- Bạch Đại đức, các Sa-môn trong hàng ngũ của Đại đức bảo rằng những kẻ có quá khứ không tốt, đã từng làm ác, nhưng đến khi lâm chung biết nghĩ tưởng đến Phật thì được sinh lên các cõi trời. Quả thật trẫm không tin được điều đó.

Tỳ-kheo Na Tiên hỏi ngược lại nhà vua:

- Giả sử có kẻ cầm một hòn đá nhỏ ném xuống nước, hòn đá ấy nổi hay chìm?

- Thưa, chìm.

- Bây giờ, có kẻ đem một trăm hòn đá lớn chất vào một chiếc ghe lớn (đủ sức chở) thì trăm hòn đá ấy có chìm không?

- Thưa, không!

- Đá không chìm là nhờ ghe chở. Cũng giống như thế, người làm ác khi chết biết tưởng nhớ đến Phật, được Phật lực nâng đỡ nên không đọa vào địa ngục mà lại sinh lên các cõi trời. Hễ ai tin Phật và tưởng nhớ đến Phật thì khi lâm chung đều được Phật tiếp độ (Kinh Na-tiên Tỳ-kheo, Cao Hữu Đính soạn thuật).

Nếu người học Phật không hiểu rõ bản ý kinh, qua mẩu đối thoại trên có thể dẫn đến sự ngộ nhận: Một người cho dù không sống đạo đức, chẳng tạo công đức phước báo gì, thậm chí làm ác (nghiệp bất thiện), nhưng trước khi chết nhớ đến Phật, nghĩ tưởng đến Phật, sẽ được Phật lực nâng đỡ, chẳng những người đó không đọa vào cảnh khổ mà còn được sinh lên cõi trời. Như thế thì chỉ cần có Phật lực hộ trì, tiếp dẫn là được, cần chi tu tập, tích phước, rèn tâm dưỡng tính? Chắc chắn là không phải vậy. Bởi một người không thường nghĩ đến điều thiện, không thường làm việc thiện, không từng niệm Phật, tưởng nhớ Phật, lại còn làm việc ác, tạo nghiệp bất thiện, đến giờ phút lâm chung tâm người đó không thể nhớ tưởng đến Phật (chỉ nhớ đến những việc xấu, việc ác đã làm).

Theo các kinh Tiểu nghiệp phân biệt, Đại nghiệp phân biệt (thuộc Kinh tạng Pàli) và thuyết Cận tử nghiệp thì có những người đến giờ phút lâm chung họ thay đổi ý niệm. Có người cả đời làm nhiều việc lành, nhưng trong giờ phút lâm chung lại sinh tâm hối tiếc, hoặc sinh tâm sân hận, nghĩ đến điều ác. Có người cả đời làm ác, nhưng trong giờ phút lâm chung lại phát khởi tâm lành, nghĩ tưởng điều lành, nghĩ tưởng đến Phật. Những trường hợp trước lúc lâm chung sinh tâm ăn năn sám hối sẽ giảm được phần nào tội nghiệp; nếu khi ấy nhớ tưởng đến Phật, Pháp, Tăng, nhớ đến các thiện pháp thì có thể sinh về cõi lành. Có những trường hợp người sắp lâm chung nhớ đến Phật, niệm Phật do đã có lúc nào đó trong quá khứ gần hoặc lâu xa, họ đã từng gieo nhân duyên lành với Phật pháp, cho nên chủng tử thiện (hạt giống lành) sinh khởi. Khi ấy, tùy theo Cận tử nghiệp thiện hay ác mà họ tái sinh về cõi lành hay dữ. Tuy nhiên việc đó không có nghĩa là trong tương lai họ sẽ không thọ lãnh quả báo của những nghiệp bất thiện mà họ đã tạo ra. Dù họ có được tái sinh vào nhàn cảnh, lạc cảnh nhờ cận tử nghiệp lúc lâm chung, nhưng khi đủ điều kiện nhân duyên sinh khởi thì các bất thiện nghiệp mà họ đã tạo lại trỗi dậy, quả báo của những nghiệp xấu, ác sẽ kéo đến và làm cho họ sa đọa. Vì thế cần phải tu dưỡng đạo đức, rèn luyện tâm trí, cả cuộc đời phải là những ngày tháng sống tốt, chăm tạo nghiệp lành, tránh tạo nghiệp bất thiện. Phải thường nhớ tưởng đến hình ảnh của Đức Phật và những công đức, hạnh nguyện của Ngài, phải noi theo gương sáng đó và tu tập theo giáo pháp mà Ngài đã chỉ dạy. Đừng đợi đến lúc lâm chung mới hồi đầu.

Tha lực tương ưng với tự lực

Các kinh về Tịnh độ đều dạy không chỉ có niệm Phật, quán tưởng Đức Phật A Di Đà và cõi Cực lạc, mà còn dạy hành giả thọ trì Tam quy, Ngũ giới, hành Thập thiện, phát Bồ-đề tâm, nghiên cứu kinh điển, học tập giáo pháp, tu tạo các công đức phước lành như hộ trì Tam bảo, hoằng truyền Chánh pháp, cúng dường, từ thiện-bố thí, phóng sinh v.v.. Nếu nội dung tu tập của hành giả Tịnh độ không đúng những gì kinh điển đã dạy thì chỉ có danh chứ không thực, hành giả đã đi sai đường. Phần lớn người tu Tịnh độ ngày nay chỉ y cứ theo một số luận giải của chư vị Tổ sư Trung Quốc, hay học và hành theo vị thầy mình ngưỡng mộ mà ít lưu tâm đối chiếu đến kinh luận căn bản của tông Tịnh Độ. Nếu so sánh, đối chiếu chỗ thực hành và truyền thụ của một số trào lưu Tịnh độ ngày nay với các kinh điển Tịnh độ nguyên bản thì cách xa nhau nhiều. Đáng nói là một số giáo lý từ các kinh luận Tịnh độ gốc đã bị thêm bớt, sửa đổi và nhào nặn theo trình độ tu học của mỗi vị thầy, mỗi vị giảng sư và theo quan điểm chủ quan của họ, từ đó sở học và sở hành của một số hành giả Tịnh độ có nhiều thiếu sót.

Một bộ phận không nhỏ các hành giả Tịnh độ ngày nay tu học theo cảm tính, cảm tình, chạy theo phong trào vì số đông hoặc vì nhận thấy lối tu học đó phù hợp với sở thích, quan điểm, nhận thức của mình, và nhất là bị hấp dẫn bởi yếu tố tha lực. Họ không ý thức được rằng, trong Phật pháp không có lối nhận thức chủ quan và cảm tính. Nhận thức, tư duy và hành động theo thế gian thường tình không phải là con đường của đạo Phật. Phật pháp không chìu theo thị dục của chúng sinh. Từ bi và trí tuệ của đạo Phật không phải là những tình cảm và nhận thức bình thường của thế nhân, người tu học Phật cần phải nêu cao Chánh kiến, phân biệt rõ, nhận thức đúng.

Trở lại vấn đề tha lực và tự lực. Tha lực, lực gia trì, hộ niệm của chư Phật chỉ có khi có sự tinh tấn, nỗ lực hành trì, tu tập của hành giả. Bất cứ lúc nào hành giả có sự tu tập, tâm tưởng nhớ đến Phật, đến giáo pháp, đến các bậc tu hành, noi theo hạnh nguyện của chư Phật, thì khi ấy hành giả có được lực gia trì, có được sự hộ niệm của chư Phật. Tha lực không phải từ đâu đến, mà từ chính tự lực của chúng ta. Khi có đầy đủ đạo đức, phạm hạnh (Giới), nhất tâm (Định) và giác ngộ (Tuệ), dứt trừ được vô minh, tham ái và chấp thủ thì Tịnh độ hiện tiền, hành giả không còn ý niệm bỏ đây sinh kia, bỏ Ta-bà cầu về Cực lạc, lúc đó không còn vấn đề gì được đặt ra.

Phan Minh Đức

Tứ như ý túc

Trên bước đường tu, thực tập thành tựu hai chữ Không và Tĩnh, tiến sang giai đoạn thứ ba, tu Tứ như ý túc. Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần và Tứ như ý túc là 12 pháp căn bản trong 37 Trợ đạo phẩm, mà chúng t

Lòng từ bi & vấn đề công lý

Lòng từ bi và vấn đề công lý là đề tài rất quan trọng và thiết thực trong cuộc sống mà mỗi người chúng ta đều có suy nghĩ. Nếu áp dụng lòng từ bi theo đạo Phật đôi khi ngược lại với công lý.

Ý nghĩa & giá trị của pháp môn Niệm Phật

Niệm Phật không phải để cầu xin

Niệm Phật Dược Sư được cảm ứng

Tôi được bạn H. mời uống cà-phê sáng nhân bạn vừa hoàn thành chương trình trao học bổng cho 109 học sinh tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên đại học tại Khánh Hòa, năm học 2017

Kinh nghiệm hoằng pháp

Tôi đã trải qua ít nhất là 60 năm làm công tác hoằng pháp và trước nữa tôi đã có duyên làm thị giả các Hòa thượng, từ Hòa thượng Pháp chủ sáng lập Giáo hội Tăng-già Nam Việt cho đến Hòa thượng Thiện H

Thị hiện ba sự giáo hóa

Gần nửa thế kỷ du phương hoằng hóa, thuyết pháp độ sinh của Đức Phật chính là thị hiện ba sự giáo hóa. Bằng cách sử dụng các phương tiện vô ngại của bậc Giác ngộ, Thế Tôn hầu hết là thuyết giảng giúp

Phật là bậc giải thoát

Phật dĩ nhiên là chính Ngài, với các phẩm hạnh thù thắng không ai có thể sánh của bậc giác ngộ tối thượng. Nhưng kỳ thực, trong tâm tưởng của mỗi người tin Phật thì đều hình dung cho riêng mình một vị

Giới - Định - Tuệ

GN - Theo lịch sử Phật giáo, khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến Lộc Uyển giáo hóa năm anh em Kiều Trần Như đắc quả vị A-la-hán, sau đó, Ngài tiếp tục độ 50 thanh niên dòng họ Da Xá cũng đắc La-hán. Dưới

Hãy cúng dường cha mẹ

Mùa Vu lan về, mọi người con Phật lại thêm một lần suy ngẫm sâu hơn về thâm ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ để lo báo đền. Hiếu tâm, hiếu kính, hiếu dưỡng, hiếu thuận… là những đức tính và công hạn

Tam bảo lực & tâm thành của Phật tử trong lễ Vu lan

Đến mùa Vu lan Báo hiếu của Phật tử xuất gia và tại gia, tôi nhắc một số việc rất quan trọng trong đời sống tu hành của chúng ta.

Phật tử cần cảnh giác với các thủ đoạn cải đạo

HỎI: Tôi có quen một người bạn là Phật tử nhìn chung có chút am hiểu kinh điển Phật giáo. Khoảng hai năm sau, tôi gặp lại và được biết bạn ấy đã chuyển đức tin sang một tôn giáo khác. Bạn ấy cho biết

Tư cách người Phật tử

Phật tử là người đã quy y Tam bảo, phát nguyện quay về nương tựa ba ngôi quý báu Phật Pháp Tăng, giữ gìn năm giới, sống đời sống đạo đức theo tinh thần Phật dạy.

Ý nghĩa Phật xuất gia, thành đạo

Ý nghĩa xuất gia, thành đạo và thuyết pháp giáo hóa của Đức Phật là ba vấn đề chính mà quý thầy cô cần suy nghĩ để khéo vận dụng những lời dạy trong kinh điển Nguyên thủy và Đại thừa.

Làm thế nào để vẹn toàn lễ nghĩa?

HỎI: Tôi là nữ Phật tử, 24 tuổi, hiện có nhiều ưu tư. Bởi tôi có ý định xuất gia khi ba mẹ tôi trăm tuổi già nhưng gia đình, cô dì chú bác ép tôi phải lấy chồng, quen người họ giới thiệu. Tôi biết lòn

Suy nghiệm lời Phật: Tứ Vô sở úy

Vô sở úy có nghĩa là hoàn toàn tự tin, không hề sợ hãi trước bất kỳ ai và bất cứ điều gì; là phẩm tính toàn thiện của bậc Chân nhân, đấng Giác ngộ. Tứ vô sở úy là bốn đức tự tin, không sợ hãi của Thế

Ý nghĩa Lễ tắm Phật

GN - Mỗi năm đến mùa Phật đản, các chùa đều làm lễ tắm Phật và đọc bài kệ, bài chú tắm Phật. Nếu tin rằng bài chú tắm Phật có tính cách linh thiêng thì cũng được, nhưng theo tôi, hiểu được ý nghĩa và

Phật Dạy Chánh Kiến Xây Dựng Nền Tảng Trí Tuệ Cho Con Người

Bát Chánh Đạo là tám con đường ngay thẳng, hay là tám phương pháp nhiệm mầu mật thiết, luôn giúp người Phật tử đạt đến an lạc, hạnh phúc trong đời sống hằng ngày. Trong đạo Phật, Bát Chánh Đạo được xe

Ăn ít, uống ít, ngủ ít, nói ít

GN - Đạo tràng Tường Vân đã trải qua 6 năm và 74 khóa tu Một ngày an lạc. Hôm nay, Phật tử tập hợp về tu đông là tín hiệu đáng mừng cho Phật giáo. Vì tất cả Phật tử khắp cả miền Nam theo đuổi một khóa

Lựa lời mà nói

GN - Ngôn ngữ là phương tiện mà con người dùng để giãi bày tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời cũng là phương tiện giao tiếp giữa người và người trong xã hội.

Thành trì vững chắc của người tu

GN - Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, ở trong Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo: “Như vương thành ở biên giới có đầy đủ bảy điều kiện và bốn thứ lương thực sung túc

Người mang sứ mạng của Như Lai

Sau khi kim tướng của Đức Thế Tôn không còn trên đời, những phương pháp đưa nhân sanh từ bờ mê quay về nẻo giác mà Ngài đã tìm ra, được hàng Tăng bảo duy trì và phát huy hưng thịnh. Nói cách khác, mạn

Nhập Không môn

GN - Pháp Không là cánh cửa không, mà đa số chúng ta không hiểu nghĩa Không trong đạo Phật. Phần lớn chúng ta hiểu Không là không có gì, đó là sai lầm lớn của người tu. Có người nói rằng Không là cửa

Thiện tri thức là bậc Phạm hạnh trọn vẹn

GN - Xuất gia tu học với bản nguyện thượng cầu hạ hóa, làm thầy của trời người. Khoan nói chi loài trời cao xa nhiều thần thông và phước báo, chỉ riêng trong loài người mà khiến cho họ tín thuận, quy

Đạo Phật hướng con người sống với trí tuệ

GN - Con người ai cũng có tâm mong cầu và lòng sợ hãi. Mong cầu được sung sướng hạnh phúc, được lợi lộc giàu sang, được thăng quan tiến chức… Sợ hãi trước mọi thiên tai dịch họa, bệnh tật hiểm nghèo,

Chuyện gà trong kinh Phật

GN - Có thể nói, hầu hết các thời thuyết giáo, Đức Phật đều vận dụng những hình ảnh để thí dụ giúp người nghe dễ hiểu, lãnh hội được điều Ngài muốn trao truyền. Trong kho tàng văn học Phật giáo, từ Ki

Tổ Huệ Đăng : Gương sáng Phật giáo yêu nước - phụng đạo

Hòa thượng Huệ Đăng với Tổ đình Thiên Thai là tiêu biểu cho tinh thần Phật giáo gắn với truyền thống yêu nước phụng đạo: “Đất nước có độc lập tự chủ thì Phật pháp mới hóa độ tròn duyên”.

Từ kinh Vô lượng nghĩa nhìn về kinh Nguyên thủy

GN - Tất cả giáo lý Phật không nằm ngoài ba việc chính yếu là đạo đức, trí tuệ và làm lợi ích cho cuộc đời và đã được ghi rõ trong kinh Vô lượng nghĩa; nói cách khác, 84.000 pháp môn tu của Phật đều q

Cảm niệm ngày Phật Thành Đạo

Ngày Phật Thành Đạo là dấu ấn quan trọng trong lịch sử nhân loại, là sự ra đời của đạo Phật, sự ra đời của những con người mang theo thông điệp hòa bình, góp phần xây dựng nền tảng đạo đức xã hội với

Dặn lòng nhẫn & xả để buông tâm đố kỵ

GN - Trong cuộc sống, đố kỵ là chuyện thường tình ai cũng hiểu. Ganh ghét, hơn thua, cái bệnh ái thủ như một đặc tính cố hữu, có chủng tử sắp sẵn trong tâm con người. Khi cái hạnh phúc người khác có đ

33 câu nói có ý nghĩa

1-Người Phật tử cần phải thiền trong đi đứng nằm ngồi, trong sinh hoạt hằng ngày sẽ giúp cho chúng ta nhận biết được rõ ràng những ý nghĩ, lời nói, hành động của mình là thiện hay bất thiện, để ta sửa

Phật Dạy Sự Nghiệp Ngày Mai

Để đảm bảo sự nghiệp ngày mai của mình được tươi sáng và tốt đẹp, chúng ta ngày hôm nay hãy chuẩn bị cho một hành trang vào đời với những hiểu biết chân chính, bằng sự học hỏi, chiêm nghiệm và tu sửa

Tư tưởng Tịnh độ & tha lực

Khởi nguyên tư tưởng Tịnh độ và tha lực

Giáo Pháp Thời Luân không biện hộ hay tiên đoán một thế giới quyết chiến giữa Thiện và Ác

Giáo Pháp Tương Tục [1] hay tantra cao nhất cùa Đạo Phật, Mật Điển Du Già Tối Thượng [2], dạy những phương pháp thiền quán song song với tiến trình của sự chết và tái sinh nhằm để thâm nhập trình độ v

VIDEO 




LIÊN KẾT 
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------
------------------------------------


THƯ VIỆN